Ngày càng có nhiều người nước ngoài cư trú tại Việt Nam cùng với gia đình của họ là người nước ngoài hoặc người Việt Nam. Nhiều người trong số họ sống lâu dài, kết hôn, sinh con, mua nhà và sở hữu tài sản tại Việt Nam. Thậm chí, đối với một số người, đây cũng là nhà duy nhất của họ. Do đó, họ sẽ đương nhiên quan tâm về việc phân chia tài sản này sau khi qua đời. Chúng tôi phân tích các vấn đề pháp lý cần quan tâm dành cho người nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam và lập di chúc dưới góc độ pháp luật Việt Nam.
Các điều ước quốc tế về thừa kế giữa Việt Nam và quốc gia nơi người lập di chúc mang quốc tịch có thể quy định các hướng dẫn riêng. Đây là cơ sở ban đầu để xem xét, tuy nhiên Việt Nam và nhiều quốc gia chưa có điều ước quốc tế về vấn đề này, chẳng hạn, giữa Việt Nam và Úc, Hoa Kỳ hoặc Vương quốc Anh.
Năng lực pháp luật để lập di chúc
Năng lực lập di chúc của người nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của quốc gia nơi người đó có quốc tịch hoặc pháp luật của bang trong trường hợp các quốc gia có nhiều hệ thống pháp luật, ví dụ như Hoa Kỳ. Chẳng hạn, tại bang New York, độ tuổi mà một cá nhân được quyền lập, sửa đổi hoặc hủy bỏ di chúc là 18 tuổi, song có những trường hợp ngoại lệ cho phép độ tuổi này thấp hơn. Tại Việt Nam, độ tuổi tối thiểu cũng là 18 tuổi, pháp luật cũng quy định những ngoại lệ độ tuổi này có thể thấp hơn.
Điều kiện đối với người thừa kế
Người thừa kế, bất kể là công dân Việt Nam hay người nước ngoài, phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế (tức là khi người lập di chúc qua đời). Trường hợp chưa sinh ra tại thời điểm mở thừa kế, người thừa kế phải được thụ thai trước thời điểm người lập di chúc qua đời và phải sinh ra và còn sống sau đó.
Tài sản được thừa kế
- Đối với động sản, việc phân chia có thể được thực hiện theo nội dung di chúc.
- Đối với bất động sản tại Việt Nam, điều kiện để người nước ngoài được thừa kế quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam sẽ được xác định theo pháp luật về bất động sản tại Việt Nam. Các điều kiện chủ yếu bao gồm:
- Người thụ hưởng phải nhập cảnh vào Việt Nam (có hộ chiếu còn hiệu lực kèm theo thị thực hoặc dấu nhập cảnh còn hiệu lực do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam cấp);
- Người nước ngoài được quyền thừa kế và sở hữu nhưng không vượt quá số lượng căn hộ hoặc nhà ở nhất định trong các dự án nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở.
Trường hợp người thừa kế không đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà ở tại Việt Nam, người đó có quyền chuyển nhượng hoặc ủy quyền cho người khác chuyển nhượng nhà và được phép chuyển tiền thu được ra nước ngoài. Người thừa kế cũng có thể tặng cho nhà này cho người thuộc diện đủ điều kiện sở hữu nhà ở theo quy định pháp luật.
Người thừa kế bắt buộc
Có những quy định về việc định đoạt tài sản giữa người lập di chúc và người thừa kế. Ví dụ, người chồng phải để lại một phần di sản bắt buộc cho vợ và con chưa thành niên. Những quy định này áp dụng đối với di chúc được lập tại Việt Nam và liên quan đến tài sản là bất động sản ở Việt Nam, bất kể vợ và con của người lập di chúc là công dân Việt Nam hay người nước ngoài, và bất kể họ có cư trú tại Việt Nam hay không.
Pháp luật Việt Nam quy định phần thừa kế bắt buộc, không phụ thuộc vào nội dung di chúc, dành cho các đối tượng sau: con chưa thành niên của người chết, cha mẹ, vợ hoặc chồng, và con đã thành niên của người lập di chúc nhưng mất khả năng lao động. Nhóm người này có quyền hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, ngay cả khi không được chỉ định trong di chúc, ngay cả khi không mang quốc tịch Việt Nam và ngay cả khi đang cư trú ở nước ngoài. Quy định này không áp dụng đối với người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc bị truất quyền thừa kế theo pháp luật. Các quy định về phần thừa kế bắt buộc không áp dụng đối với di chúc được lập ngoài lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, nếu di chúc được lập theo pháp luật Việt Nam và được công chứng tại Việt Nam, và di sản có liên quan đến bất động sản tại Việt Nam, thì các quy định về phần thừa kế bắt buộc của thành viên gia đình sẽ được áp dụng.
Người nước ngoài có thể được yêu cầu cam kết rằng tại quốc gia của họ không có quy định về phần thừa kế bắt buộc khi lập di chúc trước công chứng viên Việt Nam. Công chứng viên có thể yêu cầu người lập di chúc cung cấp tài liệu do cơ quan có thẩm quyền tại quốc gia của họ cấp để xác định ai là người thừa kế bắt buộc theo pháp luật nước đó, ngoại trừ trường hợp di sản liên quan đến bất động sản tại Việt Nam, thì sẽ do pháp luật Việt Nam điều chỉnh.
Thực hiện tại Việt Nam di chúc được lập ở nước ngoài
Di chúc được lập ở nước ngoài phải được công nhận thì mới có thể được thực hiện tại Việt Nam. Một di chúc được lập hợp pháp ở nước ngoài và không trái với pháp luật Việt Nam có thể có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Nếu một di chúc hợp pháp theo pháp luật của quốc gia nơi người lập di chúc có quốc tịch, nhưng lại mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam, thì di chúc đó không được thực hiện tại Việt Nam. Để một di chúc được lập ở nước ngoài có thể được thi hành tại Việt Nam, di chúc phải được lập thành văn bản và phải qua thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự. Một vấn đề khác là ngôn ngữ: nếu di chúc được lập và ký bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt, thì phải được dịch sang tiếng Việt và bản dịch phải được công chứng tại Việt Nam.
Thuế liên quan đến thừa kế
Theo pháp luật Việt Nam, việc thừa kế chứng khoán, phần vốn trong doanh nghiệp, bất động sản và các loại tài sản khác có đăng ký quyền sở hữu phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu người thụ hưởng là công dân Việt Nam hoặc tài sản đó tại Việt Nam, kể cả trong trường hợp di chúc được lập ở nước ngoài. Khi có nghĩa vụ thuế, người thụ hưởng phải nộp, tuy nhiên nhiều trường hợp được miễn thuế nếu di sản liên quan đến bất động sản. Ví dụ, việc chuyển nhượng bất động sản không chịu thuế trong trường hợp người thụ hưởng là:
- vợ hoặc chồng;
- con ruột;
- con nuôi;
- anh, chị, em ruột;
- con dâu, con rể;
- ông bà và cháu.
Kết luận
Thủ tục công nhận di chúc lập ở nước ngoài tại Việt Nam – tức là thủ tục để một Di Chúc lập ngoài lãnh thổ được công nhận – có thể là một quá trình kéo dài, tiềm ẩn nhiều thách thức pháp lý, bao gồm việc xác định tính hợp lệ của di chúc, tính phức tạp của các loại tài sản liên quan, cũng như khả năng phát sinh tranh chấp và việc giải quyết các tranh chấp đó. Do vậy, khi có thể, người nước ngoài nên cân nhắc việc lập một di chúc riêng tại Việt Nam để định đoạt đối với tài sản tại Việt Nam, đồng thời lập một di chúc khác tại nước ngoài để định đoạt đối với tài sản ở nước ngoài.
Di chúc cần được rà soát định kỳ và cập nhật để phản ánh những thay đổi trong hoàn cảnh cá nhân, tình trạng pháp lý của tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam, cũng như sự thay đổi trong các quy định pháp luật về thừa kế.

