Quá Trình Phục Hồi Từ Tình Trạng Mất Khả Năng Thanh Toán – Dưới Góc Nhìn Theo Luật Phá Sản Mới Của Việt Nam

January 30th, 2026
| |
Banking & Capital Markets

Tổng quan. Luật Phá sản đầu tiên được ban hành vào năm 1993 (“Luật 1993”). Luật này  được áp dụng trong vòng 10 năm và được thay thế bằng Luật Phá sản năm 2003 (“Luật 2003”). Sau đó, Quốc hội đã thông qua một đạo luật phá sản hoàn toàn mới vào năm 2014 (“Luật 2014[1]). Mới đây, Luật 2014 đã được thay thế bởi Luật Phục hồi và Phá sản (“Luật mới”)[2]. Luật mới gồm 8 Chương và 88 Điều, dự kiến Luật mói sẽ có hiệu lực từ tháng 3 năm 2026. Bài viết này thảo luận  một số điểm đáng chú ý của Luật mới.

Tình trạng mất khả năng thanh toán. Theo Luật 2014, doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn sau  thời hạn ba (03) tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Theo Luật mới, thời hạn ba tháng này được kéo dài thành sáu (06) tháng. Lý do đằng sau của sự thay đổi này là do các sự kiện bất lợi nghiêm trọng hoặc các tình huống bất khả kháng có thể phát sinh mà không thể lường trước. Mặt khác, tình trạng mất khả năng thanh toán không chỉ xuất phát từ các quyết định kinh doanh sai lầm  mà cũng có thể do suy thoái kinh tế khu vực hoặc toàn cầu.  Các nhà làm luật đã điều chỉnh quy định này nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có thêm thời gian để thanh toán các khoản nợ của mình.

Phục hồi hoạt động kinh doanh. Theo Luật 2014, thủ tục phục hồi chỉ là một phần  trong  thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật mới điều chỉnh cả thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản, trong đó tập trung  vào phục hồi hoạt động kinh doanh. Sự thay đổi này được thể hiện ngay trong chính tên gọi của Luật mới, đồng thời thủ tục phục hồi được quy định thành một chương riêng trong Luật mới (Chương II).

Luật mới cho phép các chủ thể sau đây đề nghị tòa án áp dụng thủ tục phục hồi :

(i)     Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
(ii)    Hội đồng quản trị;
(iii)   Hội đồng thành viên;
(iv)   Đại hội thành viên của hợp tác xã;
(v)    Chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Trong thời hạn mười lăm (15) ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi, Tòa án (theo toàn quyền quyết định của mình) sẽ quyết định chấp nhận hoặc từ chối đơn yêu cầu. Trong thời gian này, Tòa án có thể triệu tập các cuộc họp giữa các bên liên quan để xem xét vụ việc. Trường hợp đơn được chấp nhận, thời hạn tối đa của thủ tục phục hồi không được vượt quá ba (03) năm.

Các hoạt động bị hạn chế và cơ chế giám sát của Quản tài viên. Sau khi đơn yêu cầu được Tòa án thụ lý và chấp nhận, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bị cấm thực hiện các hoạt động sau đây:

  • Che giấu, tẩu tán hoặc tặng cho bất kỳ tài sản nào;
  • Từ bỏ quyền đòi nợ;
  • Thanh toán các khoản nợ phát sinh trước ngày Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu;
  • Chuyển đổi khoản nợ không có bảo đảm thành khoản nợ được bảo đảm toàn bộ hoặc một phần bằng tài sản của doanh nghiệp; hoặc
  • Phân chia lợi nhuận, phân phối thu nhập.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được tiếp tục một cách bình thường, tuy nhiên phải chịu sự giám sát của Quản tài viên và Tòa án.  Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có nghĩa vụ báo cáo và xin ý kiến Quản tài viên trước khi thực hiện các giao dịch sau:

  • Vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản, bán hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp; chuyển giao quyền sở hữu tài sản;
  • Chấm dứt các hợp đồng còn hiệu lực;
  • Thanh toán các khoản nợ phát sinh sau ngày Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu; chi trả tiền lương; và
  • Các giao dịch khác không phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.

Các hạn chế nêu trên và việc giám sát của Quản tài viên sẽ được dỡ bỏ khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết phê duyệt phương án phục hồi, với điều kiện nghị quyết này phải được Tòa án công nhận.

Xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng trong quá trình phục hồi, việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thực hiện theo nghị quyết của Hội nghị chủ nợ.  Lưu ý rằng, Luật mới quy định các điều kiện bắt buộc để nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực thi hành, bao gồm: Nghị quyết chỉ được thông qua khi có sự chấp thuận của các chủ nợ đại diện cho ít nhất 65% tổng giá trị các khoản nợ; Việc xử lý tài sản bảo đảm phải có sự đồng ý của chủ nợ có bảo đảm; và Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chỉ có hiệu lực thi hành sau khi được Tòa án công nhận. Trường hợp tài sản bảo đảm không được sử dụng trong quá trình phục hồi, việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thực hiện theo các điều khoản của hợp đồng bảo đảm.

Thủ tục rút gọn. Luật mới cho phép Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn trong một số trường hợp nhất định.

Thủ tục phục hồi rút gọn:

Thủ tục rút gọn có thể được áp dụng trong các trường hợp sau:

(i)     doanh nghiệp có không quá 20 chủ nợ không có bảo đảm và tổng giá trị nợ gốc dưới 10  tỷ đồng;

(ii)    doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp siêu nhỏ[3]; hoặc

(iii)   các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn, thời hạn tối đa của quá trình phục hồi không vượt quá 18 tháng. Quy trình phục hồi sẽ được tinh giản, đồng thời nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chỉ cần được thông qua theo nguyên tắc đa số đơn giản, tức là chỉ cần đồng ý của các chủ nợ đại diện cho 51% tổng giá trị các khoản nợ.

Thủ tục phá sản rút gọn:

Thủ tục phá sản rút gọn cũng có thể được áp dụng trong các trường hợp sau:

(i)       doanh nghiệp có không quá 20 chủ nợ không có bảo đảm và tổng giá trị nợ gốc dưới 10 tỷ đồng;

(ii)      doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp siêu nhỏ;

(iii)     không có tài sản, hoặc tài sản không thể thu hồi hoặc không thể bán, hoặc giá trị tài sản  thấp hơn án phí và chi phí tố tụng;

(iv)     các trường hợp khác theo quy định của pháp luật hoặc theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Thủ tục rút gọn cũng có thể được áp dụng đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm trong các trường hợp đặc biệt. Ví dụ: khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định không áp dụng biện pháp phục hồi đối với tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán; hoặc chấm dứt thủ tục phục hồi; hoặc chấm dứt chế độ kiểm soát đặc biệt đối với ngân hàng mất khả năng thanh toán, mà ngân hàng này vẫn rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn, thời gian giải quyết phá sản được rút ngắn, đồng thời nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chỉ cần được thông qua theo nguyên tắc đa số đơn giản, tức là chỉ cần đồng ý của các chủ nợ đại diện cho 51% tổng giá trị các khoản không có bảo đảm.

Mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trước đây, thủ tục phá sản chỉ có thể được yêu cầu áp dụng bởi: Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần; Người lao động hoặc tổ chức công đoàn.

Theo Luật mới, danh sách các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã được mở rộng, bao gồm: (i) Cổ đông sở hữu từ 20% trở lên vốn điều lệ trong công ty cổ phần (hoặc tỷ lệ thấp hơn theo Điều lệ công ty); (ii) Thành viên sở hữu từ 65% vốn trở lên của vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn (hoặc tỷ lệ thấp hơn theo Điều lệ công ty); và (iii) Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Các sửa đổi, bổ sung khác. Luật mới bổ sung nhiều quy định quan trọng, bao gồm: (i) Chấp nhận nộp hồ sơ điện tử và họp trực tuyến; (ii) Các vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài có thể được điều chỉnh theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; (iii) Số lượng thành viên của Ban đại diện các chủ nợ được giới hạn tối đa là năm (05) người; (iv) Có thể được miễn án phí trong một số trường hợp nhất định; (v) Quản tài viên được trao thêm quyền hạn và trách nhiệm trong quá trình giải quyết phá sản.

[1] Luật số 142/2025/QH15 về Phá sản, được Quốc hội thông qua ngày 11 tháng 12 năm 2025 (“Luật Phục hồi , Phá sản”).

[2] Luật số 51/2014/QH13 về Phá sản, được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 (“Luật 2014”).

[3] Thuật ngữ “doanh nghiệp siêu nhỏ” được đề cập trong Luật mới nhưng hiện chưa có định nghĩa cụ thể. Vấn đề này có thể sẽ được làm rõ trong các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật mới.

Bản dịch tiếng Anh

Contact Us

Tel: (84-28) 3824-3026