Hướng Đi Mới Cho Các Đơn Vị Phát Triển Năng Lượng Tái Tạo Trong Việc Bán Điện Tại Việt Nam

July 24th, 2026
| |
Energy

(Cập nhật)

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)– một doanh nghiệp nhà nước–từng là đơn vị cung ứng điện độc quyền. Trước đây, khách hàng sử dụng điện không được phép mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Tuy nhiên, điều này hiện đã thay đổi. Chính phủ đã ban hành các quy định mới (Nghị định 57[1] và Nghị định 243[2]) cho phép các đơn vị phát triển NLTT bán điện trực tiếp cho: (i) các khách hàng sử dụng điện lớn, hoặc (ii) các đơn vị bán lẻ điện (ĐVBL) trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao theo cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (HĐMBĐTT). Bài viết này sẽ thảo luận về cơ chế HĐMBĐTT, cũng như các điều kiện và yêu cầu đối với các đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện khi tham gia cơ chế này. Ngoài ra, bài viết cũng phân tích các mẫu hợp đồng và cơ chế giá theo quy định tại Nghị định 57 và Nghị định 243.

Những thay đổi đáng chú ý tại Nghị định 57 và Nghị định 243.

Khung pháp lý đầu tiên về HĐMBĐTT được quy định tại Nghị định 80[3]. Tuy nhiên, Nghị định 80 vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp. Nghị định này đã bị thay thế bởi Nghị định 57 vào tháng 3 năm 2025, và sau đó Nghị định 57 tiếp tục được sửa đổi bởi Nghị định 243 vào tháng 6 năm 2026. Một số quy định mới đã được giới thiệu và đưa vào Nghị định 57 cũng như Nghị định 243 mới. Dưới đây là những thay đổi đáng chú ý:

  • Khái niệm “khách hàng sử dụng điện lớn” đã được thay đổi theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn hơn. Yêu cầu về sản lượng tiêu thụ điện tối thiểu hàng tháng (200 kWh) và yêu cầu về cấp điện áp đấu nối của khách hàng sử dụng điện lớn đều đã được bãi bỏ. Các trung tâm dữ liệu và trạm sạc xe điện cũng được phép tham gia vào cơ chế HĐMBĐTT.
  • Hiện nay, các đơn vị phát triển NLTT có thể ký HĐMBĐ trực tiếp với các đơn vị bán lẻ điện (ĐVBL), và các ĐVBL cũng có thể ký hợp đồng mua bán điện trực tiếp với các khách hàng sử dụng điện lớn (trong trường hợp ĐVBL tự phát triển NLTT và bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn).
  • Trước đây, chỉ các nhà máy điện gió và điện mặt trời mới được phép bán điện theo Cơ chế Ảo thông qua hệ thống truyền tải của EVN. Giờ đây, các nhà máy điện sinh khối cũng được phép bán điện theo cơ chế này.
  • Trước đây, giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế HĐMBĐTT thông quan đường tuyền tải riêng (Cơ chế Trực tiếp) bị giới hạn mức giá trần, và mức giá này phải tuân theo giá trần do Bộ Công Thương (BCT) thông báo theo từng thời kỳ. Giờ đây, các đơn vị phát triển NLTT và khách hàng của mình (khách hàng sử dụng điện lớn và ĐVBL) theo Cơ chế Trực tiếp được tự do thỏa thuận giá.
  • Chủ sở hữu các dự án điện mặt trời mái nhà có thể bán lượng điện còn dư cho EVN với mức giá bằng giá bán điện bình quân của năm trước đó. Tuy nhiên, lượng điện dư tối đa bị giới hạn ở mức 50%[4] công suất phát điện thực tế. Tùy thuộc vào công suất của lưới điện EVN, hạn mức 50% này có thể được mở rộng sau năm 2030.
  • Các thủ tục về nghiệm thu hoàn thành, vận hành an toàn và phòng cháy chữa cháy đã được quy định cụ thể và đưa vào Nghị định 243.
  • Một số thủ tục hành chính và cấp phép đã được đơn giản hóa. Ví dụ, các dự án điện mặt trời mái nhà theo cơ chế “tự sản tự tiêu” không còn bắt buộc phải đăng ký với chính quyền địa phương.
  • Một số yêu cầu kỹ thuật đã được đưa vào Nghị định 243. Ví dụ, các đơn vị phát triển NLTT được yêu cầu phải lắp đặt thiết bị chống phát ngược lên lưới, thiết bị đo thông minh (smart meter) và thiết bị thu thập dữ liệu từ xa.

Các cơ chế HĐMBĐTT 

Nghị định 57 và Nghị định 243 quy định hai hình thức áp dụng cơ chế HĐMBĐTT: Cơ chế bán điện trực tiếp thông qua đường truyền tải riêng (Cơ chế Trực tiếp) và cơ chế bán điện thông qua đường truyền tải của EVN (Cơ chế Ảo). Theo Cơ chế Trực tiếp, các đơn vị phát triển NLTT có thể bán điện trực tiếp cho các khách hàng sử dụng điện lớn hoặc các ĐVBL thông qua đường dây truyền tải riêng (đường dây độc lập). Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu khoảng cách từ nhà máy NLTT đến nhà máy của các khách hàng sử dụng điện lớn hoặc các ĐVBL quá xa? Việc xây dựng một đường dây truyền tải riêng kéo dài thường sẽ không khả thi và rất tốn kém. Trong những trường hợp đó, các đơn vị phát triển NLTT có thể bán điện thông qua lưới điện của EVN theo Cơ chế Ảo. Theo Cơ chế Ảo, các đơn vị phát triển NLTT sẽ bán điện cho EVN, và EVN sau đó sẽ bán lại điện cho các khách hàng sử dụng điện lớn từ nguồn điện tổng hợp của mình. Tính năng đổi mới và sáng tạo này kỳ vọng sẽ mở ra một lối đi rộng mở cho năng lượng tái tạo. Cơ chế Ảo thông quan EVN đóng vai trò là bên trung gian–cho phép EVN thu phí truyền tải và phân phối điện đến khách hàng sử dụng điện. Cần lưu ý rằng các khách hàng mua điện từ đơn vị phát triển NLTT theo Cơ chế Ảo sẽ không nhận được 100% năng lượng sạch từ chính đơn vị phát triển NLTT đã chọn. Lý do là vì điện năng trong Cơ chế Ảo được truyền tải qua lưới điện của EVN, mà lưới điện của EVN lại bao gồm điện được phát từ nhiều nguồn khác nhau: than, khí, các nguồn NLTT, cộng với điện nhập khẩu từ Lào và Trung Quốc. 

Điều kiện và yêu cầu đối với các đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện 

Theo cơ chế Cơ chế Trực tiếp, các nhà máy điện phát điện từ năng lượng mặt trời, gió, thủy điện nhỏ, sinh khối, địa nhiệt, sóng biển, thủy triều, điện rác, hải lưu, điện mặt trời mái nhà và các hình thức NLTT khác đều được phép bán điện trực tiếp cho các khách hàng sử dụng điện lớn hoặc các ĐVBL. Tất nhiên, các nhà máy điện phải có giấy phép phát điện, giấy phép bán lẻ điện, và các dự án NLTT phải có tên trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (thường gọi là Quy hoạch điện VIII – PDP8). Các dự án NLTT được phép phát triển theo Quy hoạch điện VIII có thể được tìm thấy trong Quyết định 262 của Thủ tướng Chính phủ ngày 1 tháng 4 năm 2024. Về mặt lý thuyết, các dự án NLTT hiện hữu đã được cấp phép đầy đủ cũng có thể tham gia vào các cơ chế HĐMBĐTT. Trong trường hợp đó, các hợp đồng mua bán điện (HĐMBĐ) hiện tại đã ký với EVN phải được chấm dứt, và dự án NLTT đó sẽ không được tiếp tục áp dụng mức giá bán điện ưu đãi cũ mà họ đang được hưởng theo các HĐMBĐ đã ký.

Theo Cơ chế Ảo, chỉ các nhà máy điện sinh khối, điện gió và điện mặt trời mới được phép bán điện cho các khách hàng sử dụng điện lớn thông qua lưới điện của EVN, và công suất của các nhà máy điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời này phải trên 10 MW. Các nhà máy điện sinh khối, điện gió và điện mặt trời phải có giấy phép phát điện và các dự án NLTT này phải được quy hoạch trong PDP8.

Các mẫu hợp đồng.

Hiện tại vẫn chưa có mẫu hợp đồng chuẩn cho cơ chế Cơ chế Trực tiếp. Các đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện lớn được tự do đàm phán và giao kết hợp đồng mua bán điện trực tiếp. Nghị định 57 chỉ đưa ra các điều khoản và điều kiện chính (đối tượng của hợp đồng; mục đích sử dụng; tiêu chuẩn và chất lượng dịch vụ; quyền và nghĩa vụ của các bên; giá điện, phương thức và thời hạn thanh toán; các điều kiện chấm dứt hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; thời hạn hợp đồng; trách nhiệm đầu tư, xây dựng, quản lý và vận hành đường dây truyền tải; các điều khoản và điều kiện khác). Dưới góc độ của các đơn vị phát triển NLTT, một số điều khoản khác cần phải được đưa vào hợp đồng, chẳng hạn như chi phí chấm dứt hợp đồng, chi phí vận hành và bảo dưỡng đường dây truyền tải tư nhân, sản lượng điện giao nhận giả định, rủi ro tỷ giá hối đoái, bất khả kháng, các biện pháp bảo đảm, v.v.

Các thỏa thuận theo Cơ chế Ảo được quy định trong hai hợp đồng riêng biệt: (i) hợp đồng giữa đơn vị phát triển NLTT và EVN, theo đó đơn vị phát triển NLTT có thể bán điện cho EVN theo giá thị trường (giá giao ngay – spot price), và EVN có thể bán lại lượng điện đã mua này cho các khách hàng sử dụng điện lớn (hoặc một nhóm khách hàng sử dụng điện); và (ii) hợp đồng giữa EVN và các khách hàng sử dụng điện lớn (hoặc một nhóm khách hàng sử dụng điện), theo đó các khách hàng sử dụng điện lớn có thể mua lượng điện mà EVN đã mua từ các đơn vị phát triển NLTT cộng với lượng điện do EVN tự phát. Trước đây, các bên phải sử dụng các mẫu hợp đồng mua bán điện được quy định tại Nghị định 80. Các mẫu hợp đồng mua bán điện này đã được bãi bỏ trong Nghị định 57. Giờ đây, Nghị định 57 chỉ quy định các điều khoản và điều kiện chính. Các điều khoản và điều kiện chínhnày có thể được tìm thấy tại Phụ lục 1, 2 và 3 ban hành kèm theo Nghị định 57.

Cơ chế giá.

Trước đây, giá bán điện theo cơ chế Cơ chế Trực tiếp bị giới hạn trần và phải tuân theo các mức giá trần do Bộ Công Thương thông báo theo từng thời kỳ. Giờ đây, các bên giao kết hợp đồng trong một Cơ chế Trực tiếp được tự do đàm phán giá điện. Tuy nhiên, giá điện theo Cơ chế Ảo phải là mức giá được quy định trong Nghị định 57 hoặc phải được xác định theo các công thức đặt ra tại Nghị định 57.

Cụ thể, giá điện theo hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị phát triển NLTT và EVN (tức là theo Cơ chế Ảo) sẽ là giá thị trường (giá giao ngay) được xác định sau mỗi 30 phút thông qua thị trường giao dịch điện cạnh tranh. Tại thời điểm này, các dự án điện gió và điện mặt trời chưa có lợi thế cạnh tranh về giá so với các nhà máy điện truyền thống. Do đó, chủ sở hữu các dự án điện mặt trời và điện gió có thể sẽ không mặn mà với việc tham gia vào thị trường giao dịch điện cạnh tranh này.

Tùy thuộc vào sản lượng điện thực tế tiêu thụ của khách hàng sử dụng điện lớn, giá điện theo hợp đồng mua bán điện giữa EVN và khách hàng sử dụng điện lớn (theo Cơ chế Ảo) có thể thay đổi. Nếu sản lượng điện tiêu thụ thực tế của khách hàng sử dụng điện lớn ít hơn sản lượng cam kết quy định tại hợp đồng kỳ hạn giữa đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện lớn, giá điện sẽ được xác định theo công thức quy định tại Nghị định 57. Nếu sản lượng điện tiêu thụ thực tế của khách hàng sử dụng điện lớn cao hơn sản lượng cam kết quy định tại hợp đồng kỳ hạn giữa đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện lớn, mức giá mà EVN tính cho khách hàng sử dụng điện lớn sẽ bao gồm hai cấu phần: (i) mức giá được xác định theo các công thức quy định tại Nghị định 57 (áp dụng cho phần sản lượng cam kết), và (ii) giá bán lẻ điện hiện hành của EVN đang áp dụng cho các khách hàng khác theo chính sách giá và biểu giá của EVN (áp dụng cho phần sản lượng vượt quá sản lượng cam kết).

Theo hợp đồng kỳ hạn giữa khách hàng sử dụng điện lớn và đơn vị phát triển NLTT, khách hàng sử dụng điện lớn có trách nhiệm thanh toán cho đơn vị phát triển NLTT nếu giá thị trường toàn phần thấp hơn mức giá thỏa thuận trong hợp đồng kỳ hạn. Nghị định 57 không quy định về tình huống khi giá thị trường toàn phần vượt quá mức giá thỏa thuận trong hợp đồng kỳ hạn. Vấn đề này nên được các đơn vị phát triển NLTT và khách hàng sử dụng điện lớn tự thỏa thuận và giải quyết với nhau.

*      *      *

Khung pháp lý về HĐMBĐTT được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2024. Tuy nhiên, khung pháp lý đầu tiên này (Nghị định 80) chỉ được triển khai thực hiện trong vỏn vẹn 7 tháng. Cơ chế HĐMBĐTT sau đó đã bị thay thế bởi Nghị định 57 vào tháng 3 năm 2025, và Nghị định 57 lại tiếp tục được sửa đổi vào tháng 6 năm 2026. Tính đến nay, mới chỉ có duy nhất một hợp đồng mua bán điện trực tiếp được ký kết và thực hiện. Lĩnh vực mới mẻ này đòi hỏi một quy định rõ ràng và toàn diện hơn. Một chính sách hợp lý (bao gồm cả các chính sách mang tính bắt buộc và tự nguyện) sẽ thúc đẩy sự phát triển của năng lượng tái tạo. Ví dụ, Chính phủ có thể tạo điều kiện thuận lợi và rút ngắn các thủ tục pháp lý để phát triển cơ chế HĐMBĐTT, hoặc Chính phủ có thể bắt buộc các khách hàng sử dụng điện lớn (như các trung tâm dữ liệu, cơ sở sản xuất xi măng/thép, v.v.) phải sử dụng năng lượng tái tạo theo các thỏa thuận mua bán điện trực tiếp, hoặc Chính phủ có thể cung cấp các ưu đãi/trợ cấp cho việc phát triển năng lượng tái tạo.

Theo Nghị định 243, các đơn vị phát triển điện mặt trời mái nhà có nhiều dư địa hơn để bán lượng điện còn dư cho EVN (tăng từ 20% lên 50%). Tuy nhiên, giá của lượng điện dư mà các đơn vị phát triển điện mặt trời mái nhà bán cho EVN chỉ bằng mức giá bán điện bình quân của năm trước đó. Mức giá này thấp và không khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vì lý do hiệu quả chi phí (giữa chi phí sản xuất và giá bán). Do đó, cần đưa ra một công thức rõ ràng để tính toán mức giá hợp lý. Những chính sách như vậy chắc chắn sẽ được khu vực tư nhân đón nhận.

Nhìn chung, việc ban hành Nghị định 57 và Nghị định 243 là cần thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển của NLTT và đẩy nhanh cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp– nơi các doanh nghiệp xuất khẩu đang rất nỗ lực tích hợp mục tiêu trung hòa carbon và năng lượng xanh nhằm đáp ứng các quy định thương mại toàn cầu.

[1] Nghị định 57/2025/NĐ/CP của Chính phủ đề ngày 03/3/2025 (“Nghị định 57”).

[2] Nghị định 243/2026/NĐ-CP của Chính phủ đề ngày 26 tháng 6 năm 2026 (“Nghị định 243”).

[3] Nghị định 80/2024/NĐ-CP  của Chính phủ đề ngày 03/7/2024 (“Nghị định 80”).

[4] Giới hạn trước đó là 20%.

Bản dịch tiếng Anh

Contact Us

Tel: (84-28) 3824-3026