Trí tuệ nhân tạo và Luật SHTT Việt Nam sửa đổi — Tầm quan trọng của yếu tố con người —

June 19th, 2026
| |
Intellectual Property

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 (“Luật SHTT sửa đổi“), sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (“Luật 50“)[1]. Luật SHTT sửa đổi chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 04 năm 2026.

Lần đầu tiên, các vấn đề liên quan đến Trí tuệ nhân tạo (“AI“) được ghi nhận trong Luật SHTT Việt Nam. Tuy nhiên, theo Luật SHTT sửa đổi, AI vẫn chưa được công nhận là một chủ thể quyền sở hữu trí tuệ (“Quyền SHTT“) riêng biệt. Điều này có nghĩa là các sản phẩm được tạo ra và các tác phẩm được sáng tác hoàn toàn bởi AI sẽ không được bảo hộ, trừ khi chúng phản ánh sự sáng tạo của con người. Bài viết này nêu lên những vấn đề cần chú ý liên quan đến AI theo luật SHTT sửa đổi.

Luật SHTT sửa đổi được hỗ trợ bởi các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

  • Nghị định số 100/2026/NĐ-CP (“Nghị định 100”) ban hành ngày 31/3/2026, sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/8/2023[2], và
  • Nghị định số 134/2026 (“Nghị định 134”) ban hành ngày 6/4/2026, bổ sung cho Nghị định số 17/2023/NĐ-CP hiện hành ban hành ngày 26/4/2023 (“Nghị định 17“).

Nhìn chung, Luật SHTT sửa đổi cùng với các Nghị định 100 và 134 quy định cụ thể về: (i) các trường hợp sản phẩm đầu ra do AI tạo ra có thể được bảo hộ, (ii) thời điểm các văn bản/dữ liệu có bản quyền được phép sử dụng để huấn luyện AI, (iii) cách các quy định về sở hữu công nghiệp xử lý các sáng chế và kiểu dáng công nghiệp có sự hỗ trợ của AI, và (iv) các cơ chế thực thi cũng như gỡ bỏ nội dung vi phạm chặt chẽ hơn đối với các nền tảng trực tuyến.

* * *

Các quyền SHTT hiện được công nhận tại Việt Nam bao gồm:

  1. Quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; quyền liên quan đến quyền tác giả đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa;
  1. Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý;
  1. Quyền đối với giống cây trồng và vật liệu nhân giống cây trồng.
  1. Một nhóm quyền thứ tư hiện đã được bổ sung. Theo Điều 1.2 của Luật SHTT sửa đổi, “Chính phủ sẽ công nhận quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm được tạo ra có sử dụng hệ thống AI”.

Dưới đây chúng ta sẽ thảo luận về các vấn đề AI trong mối tương quan với các quyền SHTT:

I. AI với tư cách là quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả: 

  • Các tác phẩm có sự hỗ trợ của AI có thể được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện cụ thể–trong đó yêu cầu cốt lõi là phải có sự đóng góp đáng kể của con người. Nghĩa là, tác phẩm đó phải phản ánh sự đóng góp trí tuệ của con người thông qua việc định hướng, ra lệnh, lựa chọn, quyết định kết quả cuối cùng, nhằm đảm bảo sản phẩm đầu ra thể hiện được ý tưởng của họ chứ không phải là sự sắp đặt tự động của thuật toán.

Khi yêu cầu bảo hộ quyền tác giả hoặc quyền liên quan cho các tác phẩm được tạo ra, định hình hoặc biểu diễn mà có sử dụng hệ thống AI, các tác giả, người định hình hoặc người biểu diễn phải tuyên bố trung thực về việc sử dụng các hệ thống AI mà họ đã dùng để tạo ra, định hình hoặc biểu diễn các tác phẩm đó.

Ngoài ra, các tác giả, người định hình hoặc người biểu diễn phải chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của các tác phẩm mà họ tạo ra, định hình hoặc biểu diễn có sử dụng hệ thống AI.[3]

  • Dữ liệu huấn luyện AI và các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả: Luật SHTT sửa đổi hiện cho phép sử dụng các dữ liệu đã được công bố hợp pháp (văn bản, hình ảnh, v.v.) để huấn luyện AI, với điều kiện việc sử dụng này không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của các tác giả gốc. (Điều 1.2 Luật SHTT sửa đổi).

Ngược lại, luật cũng bảo lưu quyền của các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, nhằm ngăn chặn các tác phẩm có bản quyền của họ bị sử dụng vào mục đích huấn luyện AI.[4]

Về vấn đề này, luật sửa đổi cũng cần quy định rõ ràng về mức độ đóng góp của con người ở giới hạn nào thì một tác phẩm có sử dụng AI sẽ được bảo hộ. Các tác giả nên lưu lại tài liệu chứng minh về sự đóng góp và kiểm soát của con người đối với các quy trình AI, để làm cơ sở cho các yêu cầu công nhận quyền tác giả hoặc quyền sở hữu của mình.

II. Đối với quyền sở hữu công nghiệp: 

Quyền sở hữu công nghiệp cũng chịu sự tác động của Luật SHTT sửa đổi.

Tương tự như quyền tác giả, các sáng chế (bằng sáng chế), kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được tạo ra có sự tham gia của AI có thể được bảo hộ nếu sự đóng góp của con người đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định.

Các quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh được tạo ra có sử dụng AI có thể được bảo hộ với điều kiện là chúng phải đáp ứng các yêu cầu nhất định.[5]

* * *

 

Các vấn đề còn tồn tại: 

Vì AI là một lĩnh vực mới mẻ tại Việt Nam, nên các quy định pháp luật về AI trong luật sở hữu trí tuệ Việt Nam có thể sẽ cần phải tiếp tục hoàn thiện và chi tiết hóa. Các hướng dẫn cụ thể cần được ban hành để giải quyết ít nhất là các vấn đề sau đây:

  • Tiêu chí xác định mức độ đóng góp tối thiểu của con người để một tác phẩm có thể được bảo hộ quyền tác giả;
  • Hướng dẫn về quyền tác giả sáng chế (inventorship) và khả năng bảo hộ (patentability) đối với các sáng chế có sự hỗ trợ của AI, trong đó nhấn mạnh đến đóng góp mang tính sáng tạo của con người;
  • Quy định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý thuộc về ai–nhà phát triển, người triển khai, nền tảng trực tuyến hay người dùng, v.v. nếu một tác phẩm do AI tạo ra xâm phạm quyền SHTT của người khác.

* * *

[1] Luật 50/2005 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Lần sửa đổi gần nhất là Luật số 07/2022/QH15.

[2] Nghị định 65/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

[3] Điều 4 Nghị định 134, bổ sung Điều 5 Nghị định 17.

[4] Điều 14 Nghị định 134.

[5] Điều 5 Nghị định 100 quy định chi tiết về thời điểm phát sinh quyền đối với các quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng AI, cũng như các thủ tục thực tế và thủ tục cung cấp chứng cứ phục vụ cho quá trình thẩm định. Trong trường hợp các sản phẩm đầu ra hoàn toàn do máy móc tạo ra mà không có sự đóng góp của con người, quyền bảo hộ sẽ không được công nhận.

Bản dịch tiếng Anh

Contact Us

Tel: (84-28) 3824-3026