Tính đến tháng 5 năm 2025, khoảng 150 dự án điện gió trên bờ (với tổng công suất 8.000 MW) đã ký hợp đồng mua bán điện với EVN. Ngoài các dự án điện gió trên bờ, Việt Nam có kế hoạch phát triển các dự án điện gió ngoài khơi (gọi tắt là ĐGNK). Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng từ các dự án điện gió ngoài khơi, đặc biệt là ở các khu vực phía Nam và duyên hải Nam Trung Bộ. Chính phủ dự kiến trong vòng 5 năm tới công suất của các dự án ĐGNK sẽ đạt 6.000 MW. Đến năm 2050, công suất từ các dự án ĐGNK được kỳ vọng sẽ đạt 115.000 MW – tuy nhiên, để đạt được điều đó, rất nhiều công việc cần triển khai thực hiện.
Hiện tại, chưa có hướng dẫn chi tiết nào về việc phát triển các dự án ĐGNK. Sự thiếu rõ ràng này đã khiến nhiều công ty phải thu hẹp hoặc dừng các hoạt động phát triển. Đáp lại, Chính phủ đã ban hành Nghị định 58[1]— quy định khung pháp lý cho các dự án năng lượng tái tạo, bao gồm cả các dự án ĐGNK. Bài viết này thảo luận các quy định chính trong Nghị định 58 có liên quan đến điện gió ngoài khơi.
- Tổng quan về Nghị định 58
Nghị định 58 bao gồm 40 điều và 50 trang. Nghị định 58 đưa ra các chính sách chung cho việc phát triển các dự án ĐGNK. Bề ngoài cho thấy, một số thay đổi tích cực đã được đưa vào Nghị định 58 nhằm làm rõ các điểm còn mơ hồ trong dự thảo nghị định trước đó[2] (“Dự thảo Nghị định”). Tuy nhiên, các vấn đề chính trị nhạy cảm đối với các dự án điện gió ngoài khơi có yếu tố nước ngoài đã được quy định khá rõ ràng. Ví dụ, tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các dự án ĐGNK từng bị giới hạn ở mức 65% trong Dự thảo Nghị định, đã được nâng lên 95% và quy định trong Nghị định 58. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể lập liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát. Yêu cầu về tổng tài sản ròng trong 3 năm gần nhất phải lớn hơn tổng vốn đầu tư của dự án (trong dự thảo) cũng đã được loại bỏ trong Nghị định 58.
- Điều kiện phát triển các dự án ĐGNK
Đầu tư vào các dự án ĐGNK được xếp loại là “đầu tư có điều kiện” theo Luật Đầu tư, mặc dù luật không nêu rõ các điều kiện đó. Nghị định 58 nay đưa ra các tiêu chí cụ thể, trong đó yêu cầu đối với nhà đầu tư nước ngoài khắt khe hơn so với nhà đầu tư trong nước, đặc biệt vì lý do an ninh quốc gia, nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Phải đã triển khai ít nhất một dự án OWPP tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài, hoặc đã thực hiện một trong các hoạt động như tham gia quản lý, thiết kế hay thi công các dự án ĐGNK. Nói một cách khác, kinh nghiệm là một tiêu chí quan trọng
- Chứng minh năng lực tài chính: phần vốn trong dự án phải ít nhất là 15% tổng vốn đầu tư và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên phần vốn góp tham gia dự án tối thiểu là 20%.
- Phải lập liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát; như đã đề cập phía trên, sở hữu nước ngoài tối đa 95%.
- Phải được Bộ Quốc phòng (“BQP”), Bộ Công an (“BCA”), và Bộ Ngoại giao (“BNG”) phê duyệt.
- Cam kết sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ trong nước trong quá trình phát triển và vận hành trên nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh về giá cả, chất lượng, tiến độ và khả năng sẵn có.
Ngoài ra, tất cả nhà đầu tư phải tham gia đấu thầu. Giá điện chào thầu cho thị trường nội địa không được vượt quá giá trần do Bộ Công Thương (“BCT”) ban hành, và giá điện xuất khẩu không được thấp hơn giá trần đó.
Ngoại lệ trong đấu thầu: Thủ tướng Chính phủ có thể chỉ định doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án ĐGNK nếu:
- Dự án do doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đề xuất; hoặc
- Dự án do công ty con sở hữu 100% bởi doanh nghiệp nhà nước đề xuất.
Việc chuyển nhượng cổ phần trong các dự án ĐGNK có liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài phải được sự chấp thuận của BQP, BCA, BNG và các cơ quan liên quan khác. Thủ tục xin chấp thuận của các bộ ngành liên quan có thể mất nhiều thời gian.
- Lựa chọn công ty khảo sát
Trước đây, không có hướng dẫn cụ thể về việc lựa chọn công ty khảo sát các dự án ĐGNK, dẫn đến việc có thể sử dụng các đơn vị không có giấy phép. Nay Nghị định 58 quy định:
- Công ty khảo sát phải có kế hoạch khả thi, phù hợp.
- Cam kết sử dụng nhân sự, hàng hóa, dịch vụ trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh.
- Không yêu cầu hoàn trả chi phí khảo sát.
- Phải có năng lực tài chính, hoặc liên kết với đơn vị khảo sát có năng lực.
- Phải được BQP, BCA, BNG và BCT phê duyệt.
- Tuân thủ Luật Bảo vệ Môi trường và Luật Điện lực, đặc biệt về bảo vệ dữ liệu, quốc phòng và an toàn hàng hải.
- Ưu đãi đầu tư
Chính phủ khuyến khích phát triển các dự án ĐGNK và đưa ra nhiều ưu đãi:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: áp dụng mức thuế suất ưu đãi 10%. Miễn thuế tối đa 4 năm, và giảm 50% trong tối đa 9 năm tiếp theo.
- Miễn thuế nhập khẩu: cho hàng hóa tạo tài sản cố định, nguyên vật liệu và thành phẩm không sản xuất được trong nước.
- Ưu đãi khác cho các dự án ĐGNK được cấp phép trước ngày 1/1/2031:
-
- Miễn tiền thuê mặt biển trong giai đoạn xây dựng (tối đa 3 năm).
- Giảm 50% tiền thuê mặt biển trong 12 năm kể từ khi vận hành.
- Miễn tiền sử dụng đất trong giai đoạn xây dựng; ưu đãi sau đó theo luật đất đai và đầu tư.
- Đảm bảo EVN mua ít nhất 80% sản lượng điện trong thời gian trả nợ vay (tối đa 15 năm), giúp đảm bảo dòng tiền ổn định.
- Tự sản xuất và tiêu thụ
Chủ đầu tư của các dự án ĐGNK có thể xây dựng các nhà máy điện để tự sử dụng điện trong hoạt động sản xuất kinh doanh (như sản xuất hydro). Trong trường hợp này, họ chỉ cần thông báo cho Sở Công Thương địa phương, nêu rõ công suất, vị trí và thời gian xây dựng.
Nếu còn dư điện sau khi tự sử dụng, họ cũng có thể bán cho EVN hoặc công ty con của EVN. Tuy nhiên, EVN chỉ bắt buộc mua tối đa 10% tổng công suất dự án, và giá mua dựa trên giá thị trường bình quân năm trước.
- Nghĩa vụ tháo dỡ dự án ĐGNK
Khi kết thúc hoạt động, chủ đầu tư phải tháo dỡ và loại bỏ toàn bộ cơ sở hạ tầng trong vòng từ 1 đến 5 năm, tùy theo quy mô và tính chất dự án.
* * *
Việc phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải CO₂ và đa dạng hóa nguồn năng lượng. Lĩnh vực đầu tư này được kỳ vọng tăng trưởng mạnh trong thập kỷ tới nhờ chi phí công nghệ giảm và lộ trình loại bỏ nhiệt điện than đến năm 2045. Chính phủ dự đoán các dự án ĐGNK sẽ chiếm 15% tổng công suất điện quốc gia.
Việc xuất khẩu điện gió ngoài khơi cũng mở ra cơ hội chiến lược cho hội nhập khu vực. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục có sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ – đặc biệt là thông qua giá điện ưu đãi, bảo đảm tài chính và trợ cấp giai đoạn đầu. Đổi lại, Việt Nam sẽ có được nguồn năng lượng bền vững, ổn định và củng cố chủ quyền tại các vùng biển nơi có các dự án ĐGNK.
[1] Nghị định 58/2025/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 3 tháng 3 năm 2025 (“Nghị định 58”).
[2] Dự thảo nghị định mới nhất đề ngày 21 tháng 1 năm 2025.

