Thỏa thuận mượn danh là gì?
Thỏa thuận mượn danh (hay thỏa thuận đứng tên hộ) thường được tạo lập giữa các bên theo đó nhà đầu tư thực sự (bên chỉ định) bỏ vốn để đầu tư vào một công ty, nhưng một người khác (bên được chỉ định) lại được ghi nhận là nhà đầu tư trên hồ sơ, giấy phép của công ty đó. Mục đích của thỏa thuận này là để bên được chỉ định không kiểm soát hoạt động đầu tư và không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của khoản đầu tư mặc dù người này vẫn được pháp luật ghi nhận là chủ sở hữu của khoản đầu tư đó. Ngược lại, bên chỉ định là người thực hiện và kiểm soát khoản đầu tư, đồng thời là chủ sở hữu hưởng lợi thực sự, nhưng không chịu trách nhiệm đối với khoản đầu tư đó trước pháp luật. Thỏa thuận giữa bên chỉ định và bên được chỉ định thường được lập thành văn bản.
Hình thức mượn danh thường được sử dụng khi một nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh hạn chế đầu tư nước ngoài hoặc ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài và những điều kiện đó không được áp dụng đối với các nhà đầu tư Việt Nam. Bằng cách sử dụng người được chỉ định, nhà đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận gián tiếp vào lĩnh vực bị hạn chế trong khi vẫn tuân thủ về mặt hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật. Trong tình huống này, bên được chỉ định nắm giữ cổ phần và được ghi nhận trên hồ sơ, giấy phép công ty, trong khi quyền kiểm soát và các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu tư vẫn thuộc về bên chỉ định thông qua việc các bên ký kết các thỏa thuận về việc mượn danh. Tất nhiên, bên được chỉ định phải hợp tác thì nhà đầu tư nước ngoài mới đạt được mục tiêu của mình.
Thỏa thuận mượn danh có hiệu lực pháp lý không?
Không có quy định cụ thể nào của pháp luật Việt Nam cấm việc sử dụng người đứng tên hộ. Nói chung, các thỏa thuận theo đó một người hành động thay mặt cho người khác nhìn chung được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, không có cơ sở pháp lý nào cho các thỏa thuận mượn danh theo Luật Đầu tư của Việt Nam. Nếu một thỏa thuận mượn danh được sử dụng cho mục đích lẫn tránh các hạn chế về sở hữu nước ngoài thì thỏa thuận đó sẽ bị xem là đi ngược lại tinh thần của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, và do đó thỏa thuận như vậy có khả năng không có hiệu lực thi hành. Cả hai văn bản luật nói trên đều yêu cầu nhà đầu tư phải tự chịu trách nhiệm về khoản đầu tư của chính mình. Cụ thể, khi định nghĩa các hình thức đầu tư khác nhau, Luật Đầu tư không công nhận việc mượn danh là một loại hình đầu tư tại Việt Nam. Nói cách khác, pháp luật không công nhận sự khác biệt giữa người được ghi nhận là chủ sở hữu trên hồ sơ, giấy phép của công ty và chủ sở hữu thực sự của khoản đầu tư đó. Bên được chỉ định (hay là nhà đầu tư được ghi nhận trên giấy phép) sẽ được coi là chủ sở hữu đối với khoản đầu tư mà người đó đăng ký bất chấp có tồn tại thỏa thuận nào khác giữa chủ sở hữu thực sự và người này. Điều đó có nghĩa là, không có cơ sở pháp lý để thực thi một thỏa thuận mượn danh. Quan điểm này càng được củng cố nếu mục đích của việc mượn danh là nhằm lẩn tránh các điều kiện đầu tư, hạn chế đầu tư áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Trên thực tế, nếu nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư nhưng lại không được ghi nhận là “nhà đầu tư” thì sẽ không được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ với tư cách là “nhà đầu tư”. Trong khi đó, các nội dung của thỏa thuận mượn danh giữa nhà đầu tư và bên được chỉ định nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật và sẽ không được thừa nhận.
Bên cạnh rủi ro về mặt pháp lý, còn một rủi ro khác đến từ sự hạn chế trong mối quan hệ giữa các bên. Bên được chỉ định có thể phớt lờ vai trò của mình và hành động ngược lại với các yêu cầu của bên chỉ định, bất chấp các cam kết trong hợp đồng về việc người này phải thực hiện theo yêu cầu của bên chỉ định.
Ngoài ra, việc mượn danh vẫn tồn tại các rủi ro khác. Cổ phần do bên được chỉ định nắm giữ có thể được coi là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, người vợ hoặc chồng của người được chỉ định này có những quyền nhất định đối với tài sản này và các quyền đó được pháp luật bảo vệ, như quyền ngăn chặn việc bán hoặc chuyển nhượng bất kỳ cổ phần nào được coi là thuộc sở hữu chung của họ.
Thỏa thuận mượn danh đôi khi được các bên sử dụng để “lách” luật. Một thỏa thuận như vậy thiếu cơ sở pháp lý và về bản chất là không thể thi hành. Nếu xảy ra tranh chấp giữa bên chỉ định và bên được chỉ định và các bên đưa vụ việc ra tòa án tại Việt Nam, thỏa thuận mượn danh nhiều khả năng sẽ bị tuyên bố là vô hiệu. Ngay cả khi tranh chấp được giải quyết thông qua cơ quan tố tụng hoặc trọng tài bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và phán quyết có lợi cho bên chỉ định, thì cũng rất ít khả năng phán quyết đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Có thể bảo vệ nhà đầu tư thực sự trong thỏa thuận mượn danh không?
Như đã đề cập ở trên, thỏa thuận mượn danh chứa đựng nhiều rủi ro cả về mặt thương mại lẫn pháp lý. Trên thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài có thể tìm cách vượt qua những rào cản pháp lý khi thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam để thành lập công ty trong các lĩnh vực hạn chế sở hữu nước ngoài, sử dụng đất hoặc lập các cơ sở bán lẻ mà không cần xin các giấy phép con, v.v. Việc sử dụng một thỏa thuận để mượn danh của bên Việt Nam nhằm cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực tế quản lý khoản đầu tư đó thông qua người đứng tên hộ dẫn đến rủi ro cao về việc không có hiệu lực thi hành.
Hiện nay, trên thực tế vẫn có một số cấu trúc đầu tư dưới hình thức mượn danh có thể cung cấp một mức độ bảo vệ nhất định cho nhà đầu tư nước ngoài. Dưới đây là hai trong số đó:
- Việc đầu tư được tạo lập giữa nhà đầu tư nước ngoài và đối tác người Việt Nam của họ. Các bên sẽ ký kết một hợp đồng hợp tác đầu tư để quy định các nguyên tắc hợp tác chung. Tiếp theo, một hợp đồng cho vay được ký kết, theo đó nhà đầu tư nước ngoài cung cấp một khoản vay cho đối tác Việt Nam. Đối tác Việt Nam sử dụng số tiền này để đầu tư vào công ty và nắm giữ cổ phần. Số cổ phần này sau đó được cầm cố cho nhà đầu tư nước ngoài để bảo đảm cho khoản vay. Ngoài ra, đối tác Việt Nam cũng ban hành văn bản ủy quyền hợp pháp cho phía nước ngoài, cho phép họ trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh.
- Một hình thức hợp tác khác là bên nước ngoài và bên Việt Nam cùng thành lập một công ty cổ phần, trong đó 50% tổng số cổ phần là cổ phần phổ thông có quyền biểu quyết và do bên nước ngoài nắm giữ. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% số cổ phần có quyền biểu quyết tromg công ty. Số lượng cổ phần còn lại là cổ phần không có quyền biểu quyết (ví dụ: cổ phần ưu đãi hoàn lại) và do bên Việt Nam nắm giữ. Với cấu trúc sở hữu này, công ty cổ phần này sẽ được xem là một nhà đầu tư trong nước khi thành lập một công ty con tại Việt Nam. Khi đó, công ty cổ phần chỉ đóng vai trò là công ty mẹ, còn công ty con sẽ trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi không có quyền tham gia vào việc quản lý, điều hành công ty và không có quyền biểu quyết. Chỉ những người nắm giữ cổ phần phổ thông (là bên nước ngoài) mới có quyền biểu quyết, kiểm soát và/hoặc quản lý công ty.
Trong cả hai cấu trúc nêu trên, các bên thường thiết lập các cơ chế để ràng buộc bên Việt Nam phải chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp của mình ngay khi có yêu cầu từ nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, còn có những cấu trúc khác đang được sử dụng trên thực tế. Mỗi cấu trúc đầu tư đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuy nhiên, như đã đề cập, khi có tranh chấp, các thỏa thuận mượn danh sẽ khó có khả năng được pháp luật công nhận. Các thỏa thuận này chỉ có thể được thực thi dựa trên các văn bản đã ký kết giữa các bên. Vì vậy, việc đảm bảo các thỏa thuận liên quan giữa các bên được soạn thảo kỹ lưỡng và chặt chẽ là vô cùng quan trọng.
Kết luận
Cho dù vẫn tồn tại rủi ro, thỏa thuận mượn danh vẫn được một số nhà đầu tư nước ngoài sử dụng tại Việt Nam. Nếu một nhà đầu tư nước ngoài muốn sử dụng bên Việt Nam để đứng tên hộ cho việc đầu tư tại Việt Nam, các bên cần soạn thảo và ký kết các tài liệu với các quy định chặt chẽ về cấu trúc của việc hợp tác và đầu tư. Mục tiêu chính của các thỏa thuận này không phải là để loại bỏ hoàn toàn, mà là để giảm thiểu và quản trị các rủi ro, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài ở mức tối đa có thể.
Dù có thể thực hiện một số biện pháp phòng ngừa, các thỏa thuận mượn danh vẫn tồn tại nhiều rủi ro. Việc tìm được một đối tác tin cậy là yếu tố then chốt và có lẽ còn quan trọng hơn cả cấu trúc pháp lý mà nhà đầu tư có thể thiết lập. Các thỏa thuận trong đó bên Việt Nam được đối xử như một đối tác kinh doanh thực thụ và có lợi ích gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tạo được sự an toàn hơn.
